Phương pháp phân tích dư lượng một số hóa chất nhóm Pyrethroid và đánh giá khả năng diệt muỗi của chúng  11/10/2011 10:26:40 AM

Trong lĩnh vực phòng chống sốt rét (PCSR).

Một số hoá chất diệt muỗi nhóm pyrethroid như permethrin, alpha-cypermethrin, lambda-cyhalothrin và deltamethrin đã được nghiên cứu sử dụng tẩm màn, phun tồn lưu phòng chống muỗi Anopheles.

Việc đánh giá về hiệu lực diệt muỗi của màn tẩm các hoá chất này từ trước tới nay chỉ dựa vào các thử nghiệm sinh học, tuy đã có một số tác giả nghiên cứu, đề cập đến việc đánh giá tồn lượng và khả năng phân huỷ của một vài hoá chất nhóm pyrethroid trong đất, nước,
Trong công trình này chúng tôi nghiên cứu lập dựng phương pháp phân tích dư lượng một số hoá chất tẩm màn nhóm pyrethroid, xác định thời gian bán huỷ và khả năng diệt muỗi của chúng.

Các thí nghiệm lựa chọn điều kiện để phân tích từng loại hoá chất được tiến hành bằng cách bơm 1ml chất chuẩn (10-6g/ml) trên máy sắc ký (GC/ECD) ), cột BD-5, 0,25 mm x 60 m, với dòng khí mang là N2 99,999%, áp suất khí mang 110Kpa, độ chia dòng 1/50 và sử dụng các chương trình nhiệt độ khác nhau để lựa chọn điều kiện tối ưu cho việc phân tích từng loại hoá chất, kết quả cho thấy điều kiện tối ưu để phân tích một số pyrethroid là Injectơ : 2700C. Đetectơ: 3000C Nhiệt độ đầu: 2200C, Nhiệt độ cuối: 2500C Thời gian đầu: 2 phút, Độ tăng nhiệt: 50C / Phút.

Đường chuẩn của các chất này được xây dựng theo phương pháp chuẩn ngoại, bằng cách bơm lần lượt các thể tích khác nhau của các chất chuẩn có nồng độ 10-6g/L vào máy sắc kí khí, tiến hành đo ở điều kiện ổn định đã được tối ưu hoá. Từ sự tương quan giữa lượng chất bơm vào và diện tích đỉnh (pic) tương ứng trên sắc kí đồ ta dựng đường chuẩn của các hợp chất trên. Kết quả thu được khi phân tích mẫu được áp vào đường chuẩn để tính hàm lượng các chất.

Phương pháp phân tích được tiến hành trên các mẫu màn đã được tẩm hoá chất như sau: Các hoá chất pyrethroid được chiết khỏi màn bằng phương pháp chiết lỏng - lỏng với hệ dung môi n- hexan : axeton (tỉ lệ 1: 2 về thể tích), làm sạch dịch chiết bằng sắc kí cột sử dụng hệ dung môi n- hexan : điclometan để làm sạch trên cột nhồi Silicagen (tỉ lệ 3:1) và để giải hấp khỏi cột (tỉ lệ 1: 1), sau đó tiến hành định lượng bằng sắc kí khí đetectơ cộng kết điện tử (GC/ECD.

Từ thí nghiệm phân tích hàm lượng trên các mẫu giả (mẫu chứng) để so sánh hiệu quả tách chiết và độ thu hồi đã xây dựng được quy trình phân tích dư lượng các hoá chất tẩm màn nhóm pyrethroid như sau:

“Các mẫu màn tẩm Fendona, K-othrin, Icon và Imperator (5 cm x 5 cm) đã được ngâm ủ 30 phút ở nhiệt độ 250C bằng 20ml hỗn hợp n-hexan - axeton (1: 2,V/v), có thêm 0,5g muối NaCl, 2g Na2SO4.  Sau đó lắc siêu âm 30 phút. Lặp lại 3 lần, thu hồi toàn bộ dịch chiết (lớp n-hexan), cô đuổi dung môi bằng dòng khí N2 và định mức bằng 2 ml n-hexan. Đưa dịch chiết này lên cột silicagen để làm sạch. Rửa cột bằng 20ml dung môi n-hexan - điclometan (3:1/Vv), thu bỏ các tạp chất. Dùng 20ml dung môi n-hexan - điclometan (1:1 /Vv) để rửa giải các chất pyrethroid. Cô cạn bằng dòng khí  N2. Dịch chiết đã cô cạn được định mức bằng 2ml n-hexan. Sau cùng là xác định bằng sắc ký khí (GC/ECD)” (cho hiệu suất thu hồi > 90%).

Để đánh giá chi tiết độ đúng của phương pháp với một số mẫu giả có hiệu suất thu hồi thấp và cao ở các mức hàm lượng khác nhau, dùng chương trình xử lý thống kê origin 4.1 phần Analysis-oneway ANOVA. Từ giá trị t thu được với một tập số liệu xác định khi phân tích mẫu màn tuyn có chứa deltamethrin, lambda-cyhalothrin, alpha-cypermethrin, và permethrin (thí nghiệm trên mẫu giả) đem so sánh chúng tôi kết luận độ đúng của phương pháp là đạt yêu cầu, hiệu suất thu hồi đạt từ 83,9% đến 94,5%, độ lệch chuẩn: 2,25  - 3,41 và chuẩn t đạt từ 1,56 - 4,12 đều nhỏ hơn so với chuẩn t = 4,943.

Khi so sánh liên quan giữa biến đổi dư lượng của các hoá chất tẩm trên màn và sự biến đổi hiệu lực diệt muỗi cuả từng loại hoá chất, chúng tôi nhận thấy rằng giữa các đại lượng dư lượng (%R) và hiệu lực diệt muỗi thông qua tỷ lệ muối chết (%D) và yếu tố thời gian (t) có sự tương quan thuận (hệ số tương quan ½R½ = 0,96 - 0,99).

Muỗi An.dirus nuôi trong phòng thí nghiệm còn rất nhạy cảm với cả 4 hoá chất nhóm pyrethroid chọn trong nghiên cứu này (tỷ lệ muỗi chết 100%). Hiệu lực diệt muỗi An.dirus của màn tẩm Fendona 10SC liều 25mg/m2, Icon 2,5CS liều 20mg/m2 có tác dụng 6 tháng tỷ lệ muỗi chết 75% - 78% (màn tuyn) và 71% - 75% (màn sợi bông). Đối với màn tẩm K-othrin 1SC liều 20mg/m2, Imperator 50EC liều 200mg/m2 có tác dụng 5 tháng tỷ lệ muỗi chết 74,5% - 75% (màn tuyn) và 70% - 71,5% (màn sợi bông).

Bằng kết quả xác định dư lượng với thử nghiệm sinh học đã cho thấy sau 6 tháng dư lượng hoá chất trên các mẫu thí nghiệm chỉ còn lại từ 35,5% đến 55,5% và thời gian bán huỷ tuỳ từng loại hoá chất là 125 - 188 ngày (màn tuyn) và 120  - 167 ngày (màn sợi bông) trong khi đó trên một số mẫu màn tẩm đã qua sử dụng 4 tháng dư lượng các chất pyrethroid còn lại trên màn từ 43% đến 64%.
 
Nguyễn Anh Tuấn1, Nguyễn Đức Mạnh2, Hồ Đình Trung3, Nguyễn Thị Phúc1.
(1) Khoa Hoá thực nghiệm, (2) Khoa Sinh học phân tử, (3) Khoa Côn trùng.


Thống kê truy cập

Đang online: 326

Số lượt truy cập: 15,990,174